Tin tức sự kiện Thông tin y học

Thứ năm, 08 Tháng 11 2012 08:27

Ắn mật và những lợi ích từ cây ắn mật

Hình dáng cây ắn mật ? Ắn mật là tên gọi của người Tày, một số địa phương khác gọi là cây Bòn bọt. Nhưng với tên Bòn bọt thì nhiều người hay nghĩ nhầm với một số cây khác. Cụ Phan Thị Chít, người Ôn Lương, Phú Lương, Thái Nguyên đã chỉ cho chúng tôi tận nơi cây này.

Hình dáng cây ắn mật ?

Ắn mật là tên gọi của người Tày, một số địa phương khác gọi là cây Bòn bọt. Nhưng với tên Bòn bọt thì nhiều người hay nghĩ nhầm với một số cây khác. Cụ Phan Thị Chít, người Ôn Lương, Phú Lương, Thái Nguyên đã chỉ cho chúng tôi tận nơi cây này.

Cây cũng không khó tìm, ở những vùng quê, trong các góc vườn nhà, những vùng đồi núi thấp, ven vệ đường đều có thể gặp cây này mọc đơn độc hoặc xen kẽ những cây khác. Là một loài cây bụi thân mỏng mảnh, có thể mọc độc lập hay trườn dựa trên những thân cây khác vươn lên cao. Lá hình trứng, mọc so le, đầu thuôn nhọn, có lá kèm biến thành vấy nhỏ. Trên lá và phần thân cây non có màu phớt đỏ, phủ một lớp lông mịn, vì lẽ đó người Tày Cao Bằng gọi là ắn mật khuẩn, tức là cây ắn mật có lông, tên khoa học là Glochidion velutinum Wight họ Euphorbiaceae (chữ velutinum có nghĩa là nhung). Trong mọi thời tiết, nhìn phần thân và lá non của cây này luôn có màu phớt đỏ óng ánh như nhung. Cây mọc đơn lẻ, không thành cụm, có hoa nhỏ mọc ở kẽ lá, không có mùi thơm, hoa nở vào mùa xuân. Cuối hè, đầu thu quả chín màu đỏ, nhỏ như những cái cúc áo bé xíu với 7 - 8 múi như những hạt gạo xếp tỏa tròn hình đĩa bày trên đế hoa màu lục nhạt trông rất đẹp. Như vậy, chắc chắn phát tán bằng hạt, nhưng do chưa nghiên cứu kỹ về sinh thái và thổ nhưỡng nên tác giả gieo trồng chưa thành công. Đây là một cây sống thích hợp ở vùng nhiệt đới vì vậy đi dọc đất nước ta, ở đâu cũng gặp được.

 

 



Tác dụng và quá trình nghiên cứu

Năm 1976, nhóm nghiên cứu cây thuốc của trường đại học Y khoa Bắc Thái đã tiến hành thử nghiệm trên sắc kí lớp mỏng, thấy trong cả thân rễ và lá của cây này đều có chứa thành phần flavonoid và tanin pyrocatechic như nhau. Phải chăng đó chính là nhóm hoạt chất có tác dụng kháng khuẩn, chống lỏng lị? Những thí nghiệm sinh vật học sau đó đã chứng minh: Không cần dùng rễ mà ngay cả lá cũng có tác dụng tương tự. Thật may mắn vì trước đây chỉ dùng rễ, cho dù là cây sống lâu năm, nhưng nếu phải dùng rễ mới có tác dụng thì chẳng mấy chốc cây sẽ bị tuyệt chủng khi con người khai thác theo kiểu đào tận gốc, chốc tận rễ. Tôi đã báo cho cụ Chít biết và từ bấy cụ đã dùng lá thay cho rễ để lấy thuốc cho những người trong làng mỗi khi có yêu cầu. Hiệu quả tác dụng như nhau mà cây thuốc không còn bị bới rễ như trước nữa. Từ những năm 1980, trường đại học Y Bắc Thái đã cho sản xuất thử một loại viên nén 0,25g từ chất chiết nước cây ắn mật, đã tìm hiểu độc chất học, LD50, xin phép Sở Y tế cho lưu hành làm thuốc chống lỏng lị mang tên Entoglochidin. Thuốc có vị thoáng ngọt, mùi thơm, sử dụng có hiệu quả tốt cho cả người lớn và trẻ nhỏ. Ngoài tác dụng chống lỏng lị, một số người viêm đại tràng mãn sử dụng thuốc cũng có tác dụng. Thuốc cải thiện chất lượng phân, khắc phục được trạng thái đau quặn ở vùng đại tràng, tạo khuôn phân và không gây mót rặn. Năm 1981, Nguyễn Văn Mạn và Ma Thị Ngân đã thử nghiệm điều trị khỏi cho 11 bệnh nhân lị trực trùng, cho ra viện sau khi xét nghiệm hai lần âm tính. Năm 1982, một thí nghiệm rất lý thú đã được tiến hành tại phòng thí nghiệm vi sinh vật học ở khoa Dược trường đại học Y khoa Szeged (Hungary), đó là quá trình thử nghiệm trên kháng sinh đồ. Rõ ràng là ở Việt Nam, tác dụng chống lỵ đã được chứng minh trong những trường hợp uống thuốc này, nhưng trong thực nghiệm kháng sinh đồ tại phòng thí nghiệm thì hoàn toàn không có tác dụng. Hàng chục chủng vi khuẩn lỵ và những vi khuẩn khác vẫn mọc trùm lên những giọt thuốc nhỏ trên đĩa môi trường nuôi cấy. Sau nhiều lần thất bại, cuối cùng nhóm nghiên cứu đã đề xuất phương án nghiên cứu thí nghiệm mới làm kháng sinh đồ với sản phẩm thuốc đã được thuỷ phân trong môi trường dạ dày và ruột nhân tạo. Theo tiêu chuẩn Dược điển Hungary, lý do của việc tìm đến môi trường dạ dày và ruột nhân tạo trước kháng sinh đồ là vì thuốc đã phát huy tác dụng bằng đường uống.

Kết quả đã hoàn toàn như mong đợi, không chỉ những chủng trực khuẩn lỵ mà nhiều vi khuẩn khác cũng chịu tác dụng của sản phẩm Entoglochidin mới, sau khi đã được thuỷ phân trong môi trường dạ dày và ruột nhân tạo. Có thể quan sát kết quả thí nghiệm ở bảng dưới đây.

Chủng vi khuẩn

Nồng độ Entoglochidin mới trong môi trư­ờng (mg/ml)

 

12,8

6,4

3,2

1,6

0,8

Shigella flexneri

-

+

++

+++

+++

E.coli 055B5

+

++

+++

+++

+++

E.coli

+

++

+++

+++

+++

E.coli 75

-

+++

+++

+++

+++

Klebsiela pneumoniae

-

++

+++

+++

+++

Proteus vulgaris

++

+++

+++

+++

+++

Pseudomonas aeruginosa

-

-

-

-

++

Staph.aureus

-

-

-

++

+++

Staph.aureus Smith

-

-

++

+++

+++

Staph.aureus - 2

+

++

++

++

++

Bacillus sugtilis

-

++

+++

+++

+++

 

Chú thích bảng:

(-) Vi khuẩn không mọc;                                       (++) Vi khuẩn mọc ít;

(+++) Vi khuẩn mọc nhiều                                    (+) Vi khuẩn mọc rất ít;

Tác dụng trên kháng sinh đồ của Entoglochidin mới, sau khi đã thuỷ phân trong dịch dạ dày và ruột nhân tạo trên những chứng vi khuẩn khác nhau

Khi trở về Việt Nam, các tác giả đã cho thực hiện tiếp thí nghiệm này trên những chủng vi khuẩn lỵ được phân lập từ bệnh nhân. Bùi Văn Hoan và Vũ Thị Hoàn đã thành công trong thí nghiệm làm kháng sinh đồ với sản phẩm đã thuỷ phân Entoglochidin với các chủng vi khuẩn lỵ đã phân lập được. Thí nghiệm đã được tiến hành song song với nhóm Entoglochidin tự nhiên không thuỷ phân. Trên những chủng vi khuẩn như nhau, nhóm này có tác dụng hoàn toàn ngược lại với nhóm thuốc đã được thuỷ phân. Năm 1986, Trần Lưu đã có một bài báo cáo tổng kết điều trị kết quả những bệnh nhân bị lỵ trực trùng tại Hội nghị Khoa học tuổi trẻ các trường đại học Y – Dược ở Huế. Sau này, do những khó khăn về trang thiết bị, thuốc đã hoàn toàn ngừng sản xuất, tuy thế, các tác giả vẫn giữ sản phẩm Entoglochidin thô từ năm 1982, đến nay dùng thử vẫn còn có tác dụng. Điều đáng lưu ý là độ bền vững của thuốc, sản phẩm thô Entoglochidin chỉ được bảo quản trong những điều kiện rất bình thường nhưng tuyệt đối thuốc không bị ẩm mốc, sau 22 năm mùi vị vẫn không thay đổi, tác dụng vẫn được thể hiện. Vì bảo quản quá lâu năm, trường hợp này tác giả đã sử dụng cho chính mình, chứ không phải là đưa cho người khác sử dụng để tổng kết.

Trên phương diện nghiên cứu thuốc Nam, các tác giả đánh giá cao tác dụng của cây thuốc, vì dù dạng tươi hay khô vẫn giữ nguyên tác dụng. Rất nhiều cây thuốc khác chỉ có tác dụng khi dùng tươi, lúc mới thu hái, khi cây khô thì tác dụng đã mất.

Kết quả ứng dụng

Trên đây là một thí dụ về việc nghiên cứu khoa học đối với cây ắn mật. Trên thực tế, cây thuốc này còn có nhiều ứng dụng khác. Đồng bào Tày ở Cao Bằng thu hái cây này đem gài trên mái nhà phơi khô như cất lá Vôi. Khi có phụ nữ mới sinh nở, dùng toàn cây khô này đun nước uống và tắm sẽ chống được những viêm nhiễm đường sinh dục, sản phụ hồi phục nhanh. Cụ Phan Thị Chít còn dùng rễ cây này chữa khỏi một bệnh khác cho trẻ nhỏ gọi là tống trường (bệnh về đường tiêu hóa, trẻ bị rối loạn về đường hấp thụ, ăn vào không tiêu hóa được, đi tướt, phân lỏng trắng, lổn nhổn nguyên hạt cơm cháo). Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi, cây này được dùng làm thuốc lợi niệu ngay cả với những bệnh nhân bị phù do bệnh tim. Thuốc còn có tác dụng mạnh trong những trường hợp bị nhiễm trực khuẩn mủ xanh như trong quá trình làm kháng sinh đồ đã chỉ rõ, như vậy rất có ích trong phụ khoa. Trong chăn nuôi, một bệnh khá nan giải mà người nuôi lợn nái hay gặp đó là bệnh phân trắng cứt cò ở những đàn lợn con chưa được xuất chuồng, bệnh sẽ được điều trị khỏi khi người ta dùng vài lần nước sắc cây này cho lợn con uống.

Đề xuất dạng thuốc

Căn cứ trên mô hình tác dụng, với trữ lượng sơ bộ điều tra, các tác giả cho rằng: Vào cuối mùa hè đầu mùa thu, khi quả chín đã dụng là thời điểm thích hợp để thu mua cây ắn mật đã phơi khô trong nhân dân để sản xuất. Với kỹ thuật sản xuất thuốc hiện đại ngày nay, các tác giả thấy dạng thuốc thích hợp cho cây này nhất là viên nhộng mềm hàm lượng 0,25g dịch chiết nước đã làm khô. Khi chưa có điều kiện sản xuất công nghiệp thì ở mọi địa phương, các dược sĩ nên chỉ dẫn chính xác cho nhân dân để có thể dùng cây này ở phạm vi trạm xá, gia đình, rất có ích trong trường hợp bị bệnh về đường tiêu hóa và một số bệnh khác.

GS. Phan Văn Các – DS. Nguyễn Thị Thanh Tảo

CTQ số 58

 

 

 

Tags: ắn mật

Ý kiến của bạn

کاهش پينگ خريد کریو دانلود رایگان دانلود آهنگ جدید اخبار سینما و موسیقی دانلود انيميشن جدید دانلود بازی کامپیوتر دانلود سریال جدید دانلود فیلم جدید دانلود نرم افزار کامپیوتر رمان و شعر اس ام اس های جديد اخبار | تفريحی و سرگرمی پيچک اخبار ايران و جهان مجله پزشکی تفريحی و سرگرمي اخبار خريد جم کلش رويال خريد فيلترشکن اخبار ايران و جهان دکوراسيون داخلی خريد هاست پربازديد دانلود فيلم جديد اخبار ورزشی فروش کارت شارژ ايرانسل به صورت آنلاين