Kiến thức YHCT Cây thuốc – Vị thuốc

Hà thủ ô trắng và mã liên an

Hà thủ ô trắng và mã liên an

Trong bài viết “Ai chữa bệnh cho Bác Hồ? Bằng biệt dược gì?” của tác giả Đắc Trung đăng trong Cây thuốc quý số 21 ngày 20/8/2004 có nói về một loại biệt dược đã cứu Bác thoát khỏi căn bệnh sốt rét có lúc tưởng chừng không qua khỏi. Bà con địa phương đã tìm ông lang giỏi đến xem mạch và tìm thuốc cho Bác. Ông đã trèo lên tận đỉnh Núi Hồng (xã Kim Long, huyện Sơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang) tìm được củ thuốc quý đem về đốt cháy, hoà cùng cháo loãng để Bác uống. Nhờ thứ biệt dược ấy mà Bác cắt được cơn sốt và sức khỏe được phục hồi dần.

Cây cau chữa bệnh

Cây cau chữa bệnh

Cau là cây nhiệt đới lâu năm rất phổ biến ở nước ta và một số nước trên thế giới. Cau là cây thân trụ, thẳng đứng, cao 10 – 12m, có nhiều vòng sẹo đều đặn của vết lá rụng. Hoa đực ở trên, nhỏ, màu trắng, thơm; hoa cái to hơn ở dưới. Quả hạch hình trứng thuôn đầu, vỏ quả nhẵn bóng, còn non màu lục sau vàng, vỏ quả giữa nhiều xơ. Trong hạt có tanin (70% trong hạt non, 15 – 20% trong hạt già), chất béo 14%, chất đường 2% và các ancaloit: arecolin, arecaidin, guvaxin, isoguvacin, arecolidin.

Cây liên tiền thảo

Cây liên tiền thảo

Đó là câu rau má lông. Tên khoa học: Glechoma longituba (Nakai) Kupr = Glechoma brevituba Kupr. Họ Lamiaceae.

Hạt cải sen, thuốc trong vườn nhà

Hạt cải sen, thuốc trong vườn nhà

Cải sen còn gọi là cải bẹ, là cây vừa có giá trị về mặt thực phẩm, vừa có giá trị làm thuốc trong YHCT. Hạt cải sen, tên thuốc là bạch giới tử là vị thuốc được dùng khá phổ biến trong Đông y. Bạch giới tử chứa nhiều acid béo sinapic, arachidic, crucic; tinh dầu... Có nhiều cách chế biến bạch giới tử làm thuốc như: Bạch giới tử vi sao là hạt cải sao nhỏ lửa tới khô, hơi có mùi thơm, để nguội; Bạch giới tử sao vàng là hạt cải sao nhỏ lửa đến màu vàng sẫm có mùi thơm, vị cay, đặc trưng của mùi cải, để nguội; Bạch giới tử sao đen là đun nóng chảo, cho bạch giới tử vào, đảo đều cho đến khi ngoài vỏ có màu hơi đen, để nguội. Bạch giới tử sao đen có màu hơi đen, có vị thơm đặc trưng của họ cải, nhấm có vị hơi cay.

Cây dâm bụt chữa bệnh

Cây dâm bụt chữa bệnh

Cây dâm bụt (Râm bụt) còn gọi là cây bông bụp (tiếng miền Nam) là loại cây nhỡ cao từ 1 đến 2m, lá đơn, mọc cách, phiến lá khía răng cưa. Hoa to màu đỏ hồng, cũng có loại màu trắng hồng, mầu vàng, thường mọc ở nách lá hay đầu cành. Cây dâm bụt mọc hoang ở nhiều vùng  nước ta và được trồng làm cây cảnh, làm hàng rào vì có hoa đẹp. Cây dâm bụt còn cho lá, hoa, rễ làm thuốc.

Đinh hương trong nha khoa

Đinh hương trong nha khoa

Đinh hương có tên: Cống đinh hương, đinh tử hương, đinh tử, kê tử hương.

Từ Mã đề, trạch tả đến Mã đề nước

Từ Mã đề, trạch tả đến Mã đề nước

3 loài cây này có những nét giống nhau nhất là về hình dạng cây, dạng lá, một loài sống ở cạn, hai loài sống ở nước. Qua tên gọi theo âm Hán – Việt: Mã đề (Xa tiền), Trạch tả (Thuỷ đề) và Mã đề nước (Thuỷ xa tiền) cũng như tên khoa học, ta thấy Trạch tả có hình dạng như Mã đề, Mã đề nước lại có dạng như Trạch tả.

Lá lốt chữa thấp khớp, đau răng

Lá lốt chữa thấp khớp, đau răng

Cây lá lốt (tên khoa học là Piper lolot C. DC) thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) là một loại cây thảo sống dai, cao 30 – 40cm, mọc bò, thân cành có phủ ít lông và phồng lên ở các mấu. Lá đơn nguyên mọc so le, hình tim, rộng, nhẵn, mép uốn lượn, đáy hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá chằng chịt hình mạng lưới, cuống lá có bẹ ở gốc. Cụm hoa là một bông đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng chứa một hạt. Cây ra hoa, có quả vào mùa thu, từ tháng 8 đến 10.

Thỏ ty tử

Thỏ ty tử

Thỏ ty tử là hạt chín phơi hay sấy khô của cây Tơ hồng Cuscutae sinensis Lamk, họ Convolvulaceae.

 Ké đầu ngựa chữa viêm xoang, lở ngứa

Ké đầu ngựa chữa viêm xoang, lở ngứa

Ké đầu ngựa còn gọi là thương nhĩ, phát ma, mác nháng, là loại cây mọc hoang ở nhiều nơi trên đất nước ta. Tên khoa học: Xanthium strumarium L., thuộc họ cúc (Asteraceae). Bộ phận dùng làm thuốc là quả già (tên thuốc là thương nhĩ tử) và các bộ phận trên mặt đất. Theo Đông y, ké đầu ngựa vị ngọt, tính ôn, ít độc. Vào kinh phế. Có tác dụng trừ thấp tiêu phong; nhất là thông mũi do bị tắc, sát khuẩn. Dùng cho các trường hợp đau đầu, tắc ngạt mũi, viêm xoang mũi dị ứng xuất tiết; viêm mũi họng, đau nhức răng; đau co quắp tay chân, lở ngứa, viêm da dị ứng. Liều dùng: 6 - 12g. Sao vàng trước khi dùng để tránh kích ứng dạ dày- ruột, mẩn ngứa ngoài da.

 Ðịa cốt bì - Vị thuốc quý

Ðịa cốt bì - Vị thuốc quý

Địa cốt bì là rễ phơi khô của cây khủ khởi, hay khởi tử hoặc câu kỷ, có tên khoa học là Lycium chinense, Mill, họ cà Solanaceae. Cây thuộc loại nhỏ cao 1-1,5m mọc thành bụi sum suê, nhiều cành, đôi khi có ít gai, mọc ở kẽ lá, hoa nhỏ, cánh hoa màu tím đỏ, quả mọng hình trứng dài 5-20mm, đường kính 4-8mm, khi chín màu đỏ sẫm hoặc vàng đỏ, là vị thuốc quý với tên câu kỷ tử.

Huyết rồng bổ khí

Huyết rồng bổ khí

Huyết rồng hay còn gọi là kê huyết đằng, cây dây máu, người Thái vùng Tây Bắc gọi là cây bổ máu. Cây thường gặp trong các rừng, dọc theo các sông suối trên đất có cát. Là loại dây leo nhánh hình trụ, có lông mềm, về sau nhẵn. Lá kép 3 lá chét, lá kèm nhỏ dễ rụng. Hoa thành chuỳ có lông, 10 - 20cm, cuống hoa nhỏ có lông, 3mm, đài có lông với các thuỳ hình tam giác tù, tràng hoa màu tía. Quả đậu hình lưỡi liềm, có lông nhung. Thu hái dây quanh năm, phơi héo, thái phiến,  phơi hoặc sấy khô.

 Quả mơ và công dụng đối với sức khỏe

Quả mơ và công dụng đối với sức khỏe

Quả mơ là một loại quả quen thuộc, được ứng dụng nhiều trong đời sống. Quả mơ ngâm với đường là cách mà dân gian vẫn thường làm để tạo thành thứ nước uống có tác dụng giải khát.

Ngưu bàng tử mát họng, giảm đau

Ngưu bàng tử mát họng, giảm đau

Theo Đông y, ngưu bàng tử có vị cay, đắng, tính hàn; vào kinh phế và vị; có tác dụng trừ phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc, thông phổi, làm mọc ban chẩn, tiêu thũng và sát khuẩn. Có công dụng chữa cảm cúm, thông tiểu và chữa sốt, chữa sưng vú, cổ họng sưng đau, viêm phổi, viêm tai, thúc mụn nhọt tràng nhạc nhanh vỡ và khỏi. Liều dùng: 6 -12 g dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các thuốc khác.

 Ngỗng chữa suy nhược cơ thể

Ngỗng chữa suy nhược cơ thể

Ngỗng còn gọi là nga nhục, là loại thủy cầm được nuôi rất nhiều ở nước ta. Từ thịt ngỗng chế biến nhiều món ăn ngon như ngỗng quay, ngỗng tẩm bột, ngỗng xào lăn, ngỗng nướng, ngỗng hấp... mỗi món có hương vị riêng và hấp dẫn. Thành phần dinh dưỡng: có protein, lipid, các hợp chất carbon, nguyên tố Ca, P, Fe, vitamin C. Các bộ phận của ngỗng như thịt ngỗng, mật, trứng, lông, tiết ngỗng đều được dùng làm thuốc trong Đông y.

Xem theo ngày

Ban biên tập

Tổng biên tập: DS. Tạ Ngọc Dũng

Phó tổng biên tập: Lương y Phan Công Tuấn

Thư ký Toà soạn: Minh Quân

Trị sự: Lê Hải Lý

Thường trực ban biên tập: Nguyễn Hữu Hiệp.

Trình bày: Nguyễn Tiến Cường

Hội đồng cố vấn:
Chủ tịch: GS Đinh Đức Tiến.

Đường dây nóng
04 6291 3274

Ý kiến của bạn

Chất lượng thông tin mà trang web cung cấp như thế nào?