Kiến thức YHCT Cây thuốc – Vị thuốc

Thứ ba, 01 Tháng 11 2011 13:20

Khoai lang chữa táo bón

Cây Khoai lang có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới, lan truyền sang các quần đảo Thái Bình Dương, các nước Châu Á, được Cristophe Colombo đưa về châu Âu và người Bồ Đào Nha đưa vào Châu Phi.

 

Khoai lang là cây lương thực ăn củ, ăn lá, ăn đọt (ngọn), thích nghi với nhiều vùng khác nhau; từ vùng xích đạo nhiệt đới tới vùng ôn đới, có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất cát nhẹ. Củ khoai hình thành là do rễ phồng lên, chứa tinh bột và đường; củ trắng vàng hay đỏ tím tuỳ theo từng giống.

Khoai lang có 3 nhóm giống chính:

- Nhóm giống củ thịt mềm, nhiều nước, nấu chín có vị ngọt, mùi thơm, dùng luộc ăn tươi, nấu chè, làm mứt. Các giống nổi tiếng thuộc nhóm này: khoai Lim ở Bắc Ninh; khoai Nghệ ở Ninh Bình; khoai Vồ, Điệp ở Quảng Nam; khoai Dương Ngọc, Ngọc Nữ, Trắng giấy, Tám nghen ở Nam Bộ; khoai Mật, khoai Bí ở Đà Lạt. Các giống thịt vàng có nhiều vitamin A.

- Nhóm giống củ thịt chắc có nhiều bột, thích hợp với thái lát, phơi khô, làm bột. Các giống nổi tiếng thuộc nhóm này: Khoai Phụng, khoai Trà Beng ở Nam Bộ; các giống Tai Nung gốc Đài Loan.

- Nhóm giống củ thịt xơ, ăn không ngon, năng suất cao nhưng chất lượng dinh dưỡng kém, trồng làm thức ăn chăn nuôi. Các giống chính thuộc nhóm này là Hồng Quảng, Okinawa 100, Hsinchu.

Trong củ Khoai lang tươi có: 68% nước, 0,8% protit, 28,5% gluxit, 34mg% canxi, 50mg% phốtpho, 23mg% vitamin C. Ở nước ta, Khoai lang là cây lương thực quan trọng. Trước đây Khoai lang là lương thực chính ở vùng đất cát, nhân dân ta thường luộc khoai ăn tươi hoặc phơi khô, làm bột, làm bánh mứt, nấu chè… Khoai lang khô nấu với đậu là món ăn ngon và bổ dưỡng. Lá và ngọn  rau Khoai lang dùng để xào, luộc, nấu canh rất ngon. Vào các tháng “giáp hạt rau”, rau Khoai lang có tác dụng rất tốt.

Theo Đông y, Khoai lang vị ngọt, tính bình, không độc, nhuận tràng, mạnh tì thận, bổ dưỡng, tiêu ung nhọt.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng Khoai lang

Chữa táo bón

Bài 1: Củ Khoai lang sống rửa sạch, gọt vỏ, giã nhỏ, cho nước đun sôi, quấy đều, uống 1 bát vào sáng sớm, sau nửa giờ chưa đi ngoài lại uống thêm, uống vài ba ngày sẽ hết táo.

Bài 2: Khoai lang củ 150g, gọt vỏ sạch; Vừng đen 20g; Đường 30g. Nấu chè ăn, ngày 2 lần.

Bài 3: Lá Khoai lang tươi 60g; lá Mồng tơi 60g; rau Má 60g. Nấu nước uống hoặc nấu canh.

Chữa kiết lỵ đi ngoài không có nhầy máu: Củ Khoai lang nướng chín, bóc vỏ, chấm Mật ong, ăn ngày 3 lần.

Chữa mụn nhọt: Củ Khoai lang 40g; lá Bồ công anh 40g; Đường 20g. Giã nhuyễn, bọc vải đắp vào chỗ đau, ngày 2 – 3 lần, làm liên tục 2 – 3 ngày.

Hút mủ mụn nhọt: Lá khoai non 50g, Đậu xanh 12g, thêm chút muối, giã nhuyễn, đắp lên mụn đã vỡ.

Cảm cúm: Khoai lang khô (khoai sát) 1 nắm; Nghệ 1 củ; Giấm nửa bát, thêm muối sắc uống nóng.

Hen suyễn, khó thở, khò khè: Củ Khoai lang hà 3 phần, Bồ kết bỏ hạt 2 phần, sấy khô tán mịn, dùng nước hồ loãng vo thành viên 1g. Người lớn mỗi lần uống 2 viên, ngày 2 – 3 lần. Liều dùng 100 viên. Trẻ dưới 13 tuổi ngày uống 1 viên, chia làm 2 lần, sau bữa ăn .

Chữa bỏng: Lá khoai non rửa sạch, nghiền nát, vắt lấy nước phết lên vết bỏng.

Ngộ độc sắn gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn: Củ Khoai lang tươi 100g, gọt vỏ, giã nát, thêm ít nước, vắt nước cốt cho uống. Cách nửa giờ đến 1 giờ cho uống 1 lần.

Tăng sữa: Đọt khoai non hấp chín hay nấu canh ăn hàng ngày.

Chữa băng huyết: Lá Khoai lang 1 nắm, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt uống.

Cây Khoai lang cũng được khoa học hiện đại nghiên cứu. Các nhà khoa học phát hiện trong củ và lá một số giống Khoai lang có nhiều chất chống oxy hoá như: Polyphenol, Anthocynin nhất là axit hydroxycinnamic là những chất phòng chống bệnh bảo vệ sức khoẻ rất tốt. Các nhà khoa học còn sản xuất chế phẩm Caiapo từ giống Khoai lang trắng của Nhật để điều trị bệnh tiểu đường Type 2 cho kết quả rất tốt. Ở Nhật còn dùng Khoai lang để chế biến rượu ngọt truyền thống Shochu và bia.

Khoai lang là cây lương thực phổ biến của nước ta, có nhiều hoạt chất quý, được cả Đông - Tây y đánh giá cao.

Caythuocquy.info.vn

Ý kiến của bạn