Khái niệm Tên thương mại
Trên thế giới hiện nay, tên thương mại được bảo hộ như một đối tượng Sở hữu công nghiệp và việc bảo hộ chủ yếu theo pháp luật quốc gia. Tên thương mại, theo quy định của pháp luật Việt Nam là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được và có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh (Ví dụ Bảo Long và Phúc Hưng là hai tên thương mại trong lĩnh vực y học dân tộc).
Một cách dễ hiểu hơn, tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm nhận biết và phân biệt một doanh nghiệp này với một doanh nghiệp khác trong cùng một lĩnh vực kinh doanh.
Chính khái niệm ‘’thưng mại’’ đã giới hạn ‘’tên gọi’’ được bảo hộ, nghĩa là tên gọi của các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoặc các chủ thể không liên quan tới hoạt động kinh doanh không được bảo hộ ở Viêt Nam dưới danh nghĩa tên thương mại.
Quyền sở hữu Công nghiệp đối với tên thương mại
Tại Việt Nam, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại tự động phát sinh khi tên thương mại đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định mà không phải thông qua thủ tục đăng ký như các đối tượng khác. Tuy nhiên, chủ sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại (tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại) vẫn có đầy đủ các quyền như các chủ sở hữu đối tượng quyền sở hữu công nghiệp khác như:
Sử dụng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, sản phẩm, hàng hoá, bao bì, quảng cáo...;
Chuyển giao, thừa kế cho chủ thể khác, tuy nhiên người được chuyển giao hoặc được để thừa kế phải tiến hành hoạt động kinh doanh cùng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó;
Yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người thực hiện hành vi xâm phạm quyền của mình chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại.
Nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại
Nếu như nhãn hiệu hàng hoá dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, và không được mang tính mô tả sản phẩm/dịch vụ mà nó mang tên nhãn hiệu, thì tên thương mại lại dùng để phân biệt chính bản thân doanh nghiệp và có thể mang tính mô tả, chỉ rõ, nêu ra được tính chất hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ Công ty đông nam dược Bo Long, Cơ sở đông dược Phúc Hưng, Cơ sở Kim Ngọc...
Về mặt lãnh thổ, nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong khi đó tên thương mại chỉ được bo hộ trên địa bàn đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp (ví dụ địa bàn Hà Nội, Hà Tây, TP Hồ Chí Minh...).
Trên lý thuyết, nhãn hiệu hàng hoá không được nhầm lẫn với tên thương mại, và ngược lại. Tuy nhiên, việc bảo hộ hai đối tượng này nằm ở các văn bản pháp luật không đồng nhất, đồng thời, tính lãnh thổ hẹp của bảo hộ tên thương mại đang dẫn đến những xung đột quyền cho các chủ sở hữu. Để tránh những xung đột trên, cũng như cân bằng được quyền và nghĩa vụ cho các chủ sở hữu của từng đối tượng, cũng như trong một đối tưọng bảo hộ, rất cần sự hoàn thiện các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ của các nhà làm luật Việt Nam.
(Kỳ sau, bảo hộ chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ)
CTQ số 22