Trong khong hai phần ba tác phẩm, Lãn Ông tập trung kể chuyện Kinh đô. Lưu lại Kinh đô gần một năm trời nhưng Lê Hữu Trác bị ràng buộc khá chặt chẽ, không được rời khỏi nơi cư ngụ vì Chúa Trịnh Sâm và Thế tử Trịnh Cán đều đang lâm bệnh nặng! Ông xa quê Liêu Xá đã ba chục năm, đường từ Thăng Long về Liêu Xá vài mươi dặm mà nam tào bảy tuyết xin phép mới được trở về quê vài chục ngày. Tuy không có dịp gặp gỡ với thị dân Thăng Long mà chỉ được tiếp xúc với tầng lớp trên nhưng Ông vẫn phát hiện ra rằng tầng lớp trên thì bon chen, cạnh tranh, tham lam, thậm chí nhẫn tâm làm hại cả con bệnh; người thị dân thì tài hoa, linh lợi.
Thượng Kinh Ký sự có nhiều đoạn văn vừa có giá trị văn học, vừa có giá trị tư liệu lịch sử quý giá. Trước hết, ký sự đã giúp các nhà sử học khẳng định những đường cái quan thiên lý từ phía Nam dẫn tới Thăng Long thời Lãn Ông (thời đó chưa có đoạn quốc lộ số 1 từ Đuôi Cá lên ga Hàng Cỏ). Chi tiết này khớp với ghi chép của thư tịch cổ về địa lý như: Thiên nam tứ chí lộ đồ hay Càn khôn nhất lãm.
Thời đó, từ phía Nam vào thành mới có 2 đường, một là từ Đuôi Cá (xã Thịnh Liệt) theo con đường nay là Trương Định, qua cửa ô Trung Hiền (cửa này xẻ qua tường luỹ đất vòng ngoài nay là ngã tư chợ Mơ), theo phố Bạch Mai, qua cửa ô Cầu Dền (cửa này xẻ qua tường luỹ đất vòng trong) mà vào kinh thành; đường thứ hai là đường thượng đạo lai kinh tương tự đường quốc lộ số 5 ngày nay tức là từ Ngã Tư Sở (tức Sở Thịnh Quang nơi an trí tù binh Chăm) qua gò Đống Đa theo đường Tây Sơn, ngày nay qua cửa ô Cầu Dừa mà Lãn Ông gọi là ô Vũ Quan (tức cửa ô xẻ qua tường luỹ đất vòng trong) mà vào kinh thành. Lãn Ông đã để lại những dòng miêu tả cửa ô Cầu Dừa như sau:
“Đi qua cửa Vũ Quan vào thành. Nhìn thấy một dãy thành đất không cao lắm. Bên cạnh là một tường nhỏ, mặt trên là đường xe ngựa đi, mé ngoài có hàng rào tre dày kín. Dưới có hào sâu. Trong hào rải đầy chông chà, rất kiên cố. Thành có ba lần cổng ngăn. Lần cổng nào cũng có lính gác hai bên, gươm giáo sáng loáng”.
Đây là tài liệu duy nhất mô tả cặn kẽ một cửa ô Thăng Long thời Lê (cửa ô Quan Chưởng mới xây năm 1819).
Một tư liệu quý giá nữa về lịch sử là nhờ tập ký sự này mà người ngày nay hiểu phần nào về Phủ Chúa Trịnh.
Phủ Chúa Trịnh hiện nay là khu vực nào ở Thăng Long? Vấn đề đó cho đến nay vẫn chưa có đáp số chính xác. Theo Thư tịch cổ, Bản đồ cổ thì đoán định đó là một toà thành hình chữ nhật tương ứng với các đoạn phố, nay là đầu Bà Triệu và đầu Quang Trung (hai bề dọc) và giữa Hai Bà Trưng và giữa Trần Hưng Đạo (hai bề ngang).
Đó là một toà thành, hẳn cũng xây gạch, bao bọc nhiều cung điện, lầu các mà tám đời Chúa Trịnh đã lần lượt cho xây dựng, bắt đầu từ Trịnh Tùng vào các năm 1592. Ngoài ra, các Chúa còn cho xây nhiều cung điện ở ngoài Phủ, ở giữa Hồ Gươm và từ Bờ Hồ (phía Đông) ra sát sông Hồng.
Thượng kinh ký sự của Lãn Ông đã ghi lại những gì diễn ra ở bên trong Phủ Chúa. Do phải túc trực tại Phủ Chúa ròng rã hàng năm trời nên Lãn Ông đã ghi chép khá cụ thể. Đây là ngoại cảnh Phủ Chúa:
“… Đi tới cổng phủ, quan truyền mệnh dẫn qua hai lần cửa nữa rồi rẽ về phía trái. Tôi ngẩng đầu nhìn, thấy bốn bề tám phía chỗ nào cũng có cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, trăm hoa đua nở, gió thoảng hương trời. Hành lang, lan can quanh co, nối tiếp song song. Người giữ cửa truyền báo lệnh công đi lại tíu tít như mắc cửi. Vệ sĩ canh gác cửa cung, ra vào phải có phù hiệu…”
Và đây là một đoạn khác:
“… Tôi với một người lính dẫn đường theo cửa bên phải dinh phủ mà đi, vòng quanh ước chừng một dặm, nơi nào cũng lầu, đài, đình, gác, rèm châu cửa ngọc, ánh nước mây lồng, suốt lối toàn hoa, hoa kỳ cỏ lạ, gió thoảng hương trời, thú đẹp chim quý, nhảy nhót bay hót, giữ đất bằng nhô lên ngọn núi cao, cây to bóng mát, nhịp cầu sơn vẽ bắc qua lạch nước quanh co, lại có lan can làm toàn bằng đá màu. Tôi vừa đi vừa ngắm, thực chẳng khác gì cõi tiên vậy…”
Còn đây là nội thất:
“Qua hành lang phía Tây, đến một dãy nhà lớn rất cao và rộng, hai bên có hai cỗ kiệu. Mọi đồ nghi trượng đều sơn son thếp vàng. Gian giữa đặt một sập thếp vàng, trên sập mắc một chiếc võng điều. Trước võng và bàn thế hai bên bày biện toàn những thứ mà người đời chưa từng thấy…
Lớp lớp màn trướng, cứ mỗi lần màn gấm lại thấy thắp một cây nến soi đường. Đi qua chừng bốn năm lần màn hoa trướng gấm thì dến một căn nhà rộng. Trong nhà, trên một chiếc sập vàng ở gian giữa có một người ngồi, khoảng 5, 6 tuổi, mặc áo lụa hồng. Bên cạnh sập có chiếc kỷ chạm rồng sơn son thếp vàng. Trên kỷ đặt chăn gấm… Đèn lồng to sáng, hương thơm ngào ngạt đầy nhà”.
Ngoài ra, trong Thượng kinh ký sự còn nhiều tầng lớp người Thăng Long, quan lớn, quan bé, quan văn, quan võ, tài tử, giai nhân, nói chung là tầng lớp trên và đến với tác giả phần lớn là nhờ cậy thuốc men. Tuy vậy, các cuộc tiếp xúc đó cũng là những tư liệu xã hội học rất quý khi nghiên cứu Thăng Long thế kỷ XVIII.
Ngoài ra, Thăng Long có một danh thắng là Hồ Tây, vạt hồ trên 500ha mà Cao Bá Quát ví đẹp như nàng Tây Thi:
Điên đảo xuân tâm bất tự trì
Tây Hồ chân cá thị Tây Thi.
(Lòng Xuân nghiêng ngả không kìm nổi. Tây Hồ đích thực nàng Tây Thi).
Nguyễn Vĩnh Phúc