TINH HOA XANH

Rutin – hoạt chất quý chiết xuất từ cây Hòe

Chất rutin từ lâu đã được biết đến với tác dụng làm bền thành mạch máu, nhất là đối với bệnh nhân cao huyết áp với mao mạch dễ vỡ, đứt. Sự bổ sung đúng mức hoạt chất này sẽ làm giảm mạnh nguy cơ bị đột quỵ lần thứ hai hoặc bất kỳ rối loạn liên quan khác. Hoạt chất này giúp giảm viêm và giữ cho các thành của các mạch máu này dày và chắc hơn, có thể ngăn chặn nhiều dạng khác nhau của xuất huyết, bao gồm đột quỵ. Để hiểu rõ hơn về nguồn gốc, tác dụng dược lý và các ứng dụng lâm sàng của rutin, mời bạn đọc theo dõi bài viết dưới đây.

Năm 1842, lần đầu tiên rutin được phân lập từ cây Vân hương– Ruta graveolens L. bởi một Dược sĩ người Đức. Nhưng đến năm 1942, Rutin mới được sử dụng nhiều trong Y học. Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về Rutin trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng khẳng định hoạt tính sinh học và dược lý cao của hoạt chất này.

Rutin có công thức hóa học là C27H30O16 còn được gọi là vitamin P hay là flavonol glycosit gồm hai thành phần là flavonol quercetin và disaccarit rutinose. Rutin có nhiều trong hoa Hòe, hoa Lạc tiên, Mạch ba góc, Bạch đàn, hạt Kiều mạch, Trà xanh, vỏ quả các loại Cam, Nho, Chanh…

Theo dược lý hiện đại, Rutin là một hoạt chất có rất nhiều công dụng:

  • Tăng cường sức đề kháng, giảm tính thấm mao mạch

Rutin có tác dụng gây co mạch trực tiếp hệ mao quản, đồng thời cùng với Quercetin ngăn cản sự phá hủy Adrenalin (chất gây tăng cường sức đề kháng của mao mạch). Từ đó, gây ra hiện tượng giảm tính thấm của mao mạch, tăng tính bền của mao mạch và tế bào hồng cầu.

  • Tác dụng chống viêm

Thí nghiệm in vivo (1) trên cơ thể động vật cho thấy các flavon dạng Rutin có tác dụng chống viêm. Giả thuyết về cơ chế của hiện tượng này có thể do Rutin ức chế sự di chuyển bạch cầu tới ổ viêm hoặc kích thích tuyến thượng thận tiết Adrenalin đồng thời chống yếu tố gây viêm.

  • Tác dụng hạ huyết áp và cholesterol máu

Rutin có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt ở thí nghiệm in vivo trên cơ thể động vật; Quercetin có tác dụng hạ cholesterol máu đồng thời có tác dụng điều trị và phòng ngừa xơ vữa động mạch thực nghiệm.

  • Tác dụng chống kết tập tiểu cầu

Thí nghiệm in vivo trên động vật cho thấy hoạt chất Rutin làm giảm số lượng tiểu cầu và ức chế kết tập tiểu cầu. Trên in vitro (2) Quercetin cũng có tác dụng tương tự.

  • Tác dụng trên tim

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy Quercetin có tác dụng làm giãn mạch vành, cải thiện tuần hoàn tim (giảm thời gian xuất hiện rối loạn nhịp tim và giảm lượng tiêu hao O2 của cơ tim).

Các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh rất nhiều tác dụng khác của Rutin: Tác dụng trên bệnh parkinson, hoạt tính chống đái tháo đường, hoạt tính dọn gốc tự do, chống ung thư...

Trên thực tế, Rutin được dùng làm thuốc cầm máu trong các trường hợp xuất huyết, đề phòng tai biến do mạch máu bị xơ vữa, giòn dễ v, khi có biểu hiện về tổn thương mao mạch, xuất huyết dưới da, xuất huyết võng mạc, xuất huyết có liên quan đến vữa xơ động mạch, tăng huyết áp. Thuốc còn dùng chữa bệnh tăng huyết áp thể vừa và nhẹ, hạn chế được sự chảy máu não nhờ củng cố được thành mạch, giảm khả năng sinh ra các túi phình là nơi sung huyết dễ vỡ.

Vậy, nguồn cung cấp dược chất quý này là từ đâu? Theo các nghiên cứu và báo cáo đã được công bố, cây hoa Hòe là một nguồn nguyên liệu giá trị để chiết xuất Rutin. So với hơn 50 loài thực vật có chứa Rutin, Hòe có hàm lượng cao hơn cả. Hiệu suất chiết xuất rutin trong nụ hoa Hòe có thể đạt 34,44%- cao gấp 4 đến 5 lần các nguyên liệu thường được sử dụng để chiết xuất hoạt chất này trên thế giới.

Cây Hòe (Styphnolobium japonicum (L.) Schott., thuộc họ Đậu - FABACEAE) là một loại cây được trồng từ lâu đời để làm cảnh và làm thuốc ở nước ta, các vị thuốc từ Hòe được sử dụng rộng rãi trong dân gian, các bệnh viện và phòng khám Đông y.

  • Bộ phận dùng- thành phần hóa học

- Nụ Hòe (Flos Sophorae japonicae) chứa rutin (Rutosid), có hàm lượng Rutin cao nhất trong các loại nguyên liệu chiết Rutin. Ngoài ra, còn có Sophoradiol - Sophorin A - Sophorin B - Sophorin C và Bertulin.

- Lá Hòe (Folium Sophorae japonicae) chứa 4,4% Rutin; 19% Protein; 3,5% Lipid.

- Quả Hòe non (Fructus Sophorae japonicae) có 4,6% Rutin và một số thành phần khác.

- Vỏ quả Hòe già- Hòe giác chứa 10,5% Flavonoid toàn phần, Rutin 4,3% và một số thành phần khác.

  • Thu hoạch

Về mùa hoa vào tháng 7 đến tháng 9 khi nụ hoa bắt đầu nở lốm đốm thì thu hoạch. Cắt cành có nụ hoa, phơi khô rồi rũ cành lấy nụ.

Hàm lượng Rutin trong nụ Hòe tấm (<1mm) đạt 38.38%, nụ Hòe có kích thước trung bình và nhỡ (1-2mm) đạt 35,2%. Khi phát triển hoa, hàm lượng Rutin giảm 26,28% so với nụ.

Hái quả Hòe già (hạt có màu đen nâu) phơi hoặc sấy khô (khi dùng bỏ hạt).

  • Bào chế

Sau khi phơi khô, sao nụ hoa ở nhiệt độ 100-1100C đến khi có màu vàng thẫm là được. Nụ hòe rất dày nên phải sao khá lâu mới khô hẳn, mất nhiều thời gian. Tốt nhất là sau khi thu hoạch xong là phơi và xử lý nhiệt ngay để tránh tác dụng của enzym thủy phân rhamnodiastase làm giảm nhanh hàm lượng Rutin trong hoa Hòe. Nhiệt độ sao hoa Hòe nên tiến hành trong khoảng từ 80 đến 1200C. Hàm lượng Rutin giảm dần khi sao ở nhiệt độ trên 400C và hàm lượng Quercetin tăng dần khi sao ở nhiệt độ này và tăng mạnh khi sao ở mức trên 2000C.

Hàm lượng rutin trong hoa hòe giảm dần từ dạng sống (34,7%), dạng sao vàng (28,9%) đến dạng cháy (18,5%).

Ngoài ra, vì nụ hoa Hoè có tính hàn nên cần sao vàng để trung hoà tính hàn, giúp không gây tiêu chảy, lạnh bụng cho người dùng.

 

Trên đây, chúng tôi gửi đến độc giả những thông tin tổng quan về tác dụng của hợp chất Rutin cũng như cây hoa Hòe. Hòe hoa có rất nhiều công dụng nhưng sử dụng sao cho hợp lý là quả một quá trình đúc kết và nghiên cứu. Theo Y học cổ truyền, Hòe hoa mang nhiều công năng chủ trị tương quan với thành phần chính là Rutin. Độc giả hãy đón chờ số tiếp theo, chúng tôi sẽ tổng hợp và phân tích những bài thuốc hay gặp nhất liên quan đến tác dụng của Hòe hoa.

 

Ghi chú

  1.  in vivo: thí nghiệm trên cơ thể sống.
  2. in vitro: thí nghiệm ngoài cơ thể sống.
Hiển thị tất cả kết quả cho ""